Chiến thắng Điện Biên Phủ - giá trị lịch sử và tầm vóc, ý nghĩa thời đại
Cách đây 72 năm, trên cánh đồng Mường Thanh,
dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, quân và
dân ta đoàn kết một lòng, vượt qua muôn vàn khó khăn, kiên cường chiến đấu oanh
liệt làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”
- một trong những chiến công hiển hách nhất, vang dội nhất trong lịch sử chống
ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
|

|
|
Bộ
đội ta xung phong đánh chiếm lô cốt của địch ở cứ điểm C1. Ảnh:
TTXVN
|
Chiến thắng Điện Biên Phủ hào hùng năm xưa đã kinh qua
theo năm, tháng với những thành quả chiến đấu, xây dựng và bảo vệ vững chắc độc
lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
ta suốt 72 năm, nhưng tầm vóc lớn lao và ý nghĩa thời đại sâu sắc, những giá
trị lịch sử quý báu của sự kiện trọng đại này vẫn còn nguyên giá trị không chỉ
đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với toàn nhân loại.
Thứ nhất, tạo cơ sở căn bản ký kết Hiệp định
về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương
Từ ngày 13/3/1954, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định huy động sức mạnh toàn
dân tộc, thực hành “trận quyết chiến chiến lược” đập tan tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ vào loại kiên cố, hiện đại nhất của quân đội Pháp ở Đông Dương khi đó
nhằm kết thúc sự nghiệp chống thực dân Pháp xâm lược. Trong bối cảnh đó, ngày
26/4/1954, Hội nghị Genevơ được triệu tập để bàn về Triều Tiên và Đông
Dương. Mở đầu bằng các cuộc thảo luận liên quan tới Triều Tiên. Và trong khi,
ngày 8 tháng 5, Hội nghị bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương, thì bất ngờ ngày 7/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ của quân và dân Việt Nam giành
toàn thắng. Sự kiện này, mở đầu quá trình đàm phán kéo dài, phức tạp liên quan
tới Việt Nam và Đông Dương.
Với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, dân tộc
Việt Nam đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp; đặt dấu chấm hết
đối với chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới; đưa Việt Nam bước vào đàm
phán trên tư thế người chiến thắng, trong khi đó, thất bại của quân đội Pháp ở
Điện Biên Phủ đẩy Chính phủ Pháp vào “bi kịch” ở Genevơ cả quân sự, chính
trị, ngoại giao; làm cho Pháp phải từ bỏ lập trường chỉ giải quyết vấn đề quân
sự. Thắng lợi này còn đẩy quân Pháp trên chiến trường Đông Dương vào tình thế
vô cùng khó khăn. Đồng thời, cũng làm cho các nước lớn trong Hội nghị chuyển
sang ủng hộ một giải pháp toàn bộ cho vấn đề Đông Dương, mặc dù ban đầu, cũng
ủng hộ công thức Triều Tiên.
Ngày 21/7/1954, Chính phủ Pháp, sau 75 ngày
đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp, cùng các bên tham dự Hội
nghị phải ký kết Hiệp định Genevơ. Hiệp định này có giá trị vô cùng quan trọng
bởi các vấn đề chính trị và pháp lý, do các nước đã ký các văn kiện công nhận
các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam gồm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ, là cơ sở pháp lý cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đấu tranh
trong các giai đoạn tiếp theo.
Thứ hai, mở ra thời kỳ mới để dân tộc ta
tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đấu tranh giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước
Thắng lợi của quân và dân ta trong sự nghiệp
chống thực dân Pháp xâm lược đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại, những thay đổi căn
bản trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại
giao…; mở đầu một thời kỳ mới - cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai
nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương
vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; miền Nam là tiền tuyến lớn,
tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ to lớn đó, Trung
ương Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bước xác định, hoàn thiện, thực hiện
thành công đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ của cả nước cũng như đối với
từng miền, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn thách thức
hiểm nghèo, giành được thắng lợi to lớn, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến
tranh của đế quốc Mỹ, tiến lên giáng đòn quyết chiến chiến lược vào Xuân năm
1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Suốt những năm ròng chống Mỹ xâm lược, để
hoàn thành: Độc lập, tự do, thống nhất đất nước, Đảng ta xác định: “Điều cốt
yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu
tranh yêu nước của nhân dân miền Nam”; “Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể
trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố” (1); “Miền Bắc
là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững,
nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt” (2).
Hậu phương miền Bắc đã thực sự trở thành căn
cứ địa cách mạng rộng lớn, vững chắc cho sự nghiệp chống Mỹ xâm lược của cả
nước; nơi tiếp nhận mọi sự giúp đỡ của thế giới, cải tiến, cải biên, cung cấp
tối đa sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, cách mạng Lào, Campuchia
đánh Mỹ; luôn củng cố niềm tin chiến thắng vững chắc cho nhân dân ta và bạn bè
quốc tế vào thắng lợi cuối cùng trong sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Đó là
nhân tố nội lực có tính chất quyết định đưa đến thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta
trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ, đúng như Đảng ta khẳng định: “Không thể nào
có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc
xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc đã dốc vào cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước
toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc
nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước” (3).
|

|
|
Bộ
đội ta kéo pháo cao xạ vào chiến trường Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu/TTXVN
phát
|
Thứ ba, khẳng định đường lối kháng chiến đúng
đắn, sáng tạo của Đảng và sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội ta
Trên chiến trường Điện Biên Phủ, sức mạnh
chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng được huy động tổng lực, đến mức
cao nhất. Qua 56 ngày đêm, chiến đấu anh dũng và gian khổ, ngày 7 tháng 5, quân
và dân ta giành toàn thắng, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở tập đoàn
cứ điểm Điện Biên Phủ; thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng với đường lối
kháng chiến toàn diện, đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo. Từ tránh chỗ mạnh, đánh
chỗ yếu đến hạ quyết tâm đánh thẳng vào chỗ mạnh nhất về quân sự của địch, Đảng
ta đã khơi dậy và nhân lên sức mạnh lòng quả cảm và nghị lực phi thường, ý chí
quyết chiến quyết thắng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam; cả tiền
tuyến và hậu phương; tranh thủ được sự ủng hộ tích cực của nhân dân Lào,
Campuchia và nhân dân tiến bộ trên thế giới vào thời điểm sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc phát triển đến đỉnh cao để tạo nên một kỳ tích cho dân tộc
trong thế kỷ XX.
Đường lối kháng chiến của Đảng ta vừa khoa
học, vừa cách mạng, hàm chứa tinh hoa tri thức của dân tộc và nhân loại, lấy
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm cơ sở và động lực; giải quyết đúng
đắn, tinh tế mối quan hệ dân tộc - giai cấp - quốc tế, giữa mục tiêu trước mắt
và định hướng phát triển lâu dài. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, kháng
chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính được phát triển
ở trình độ cao. Phương thức phát động và chỉ đạo, điều hành cuộc chiến tranh
của Đảng ta đầy mưu lược, quyết đoán, linh hoạt, đã động viên cao độ tinh thần,
nghị lực, ý chí quyết chiến quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân,
tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đồng thời đánh dấu
sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội ta. Với vốn liếng khởi đầu chỉ có 34
chiến sĩ với vũ khí thô sơ, tầm vông, giáo mác, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn
luyện của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta không ngừng phát
triển cả số lượng và chất lượng, càng đánh càng mạnh, từng bước làm thay đổi
thế và lực. Quân ta từng bước giành thắng lợi qua những chiến dịch quân sự lớn
như: Việt Bắc Thu Đông, Biên Giới, Quang Trung, Nguyễn Huệ, Hoàng Hoa Thám, Hòa
Bình, Tây Bắc... Tới Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung ương Đảng ta huy động 5
đại đoàn chủ lực và 26 vạn dân công, bằng sức mạnh tổng hợp của các yếu tố con
người - vũ khí - trang bị, tổ chức lực lượng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, thực
hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc” liên tục tiến công, lần lượt đột phá,
tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, tiến lên tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ, đưa sự nghiệp chống thực dân Pháp giành toàn thắng, đưa dân
tộc ta bước vào kỷ nguyên mới.
Thứ tư, chấm dứt ách thống trị gần một thế kỷ
của thực dân Pháp, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm
vi thế giới
Thảm bại trước dân tộc Việt Nam trong tiến
hành chiến tranh xâm lược nói chung và tại chiến trường Điện Biên Phủ nói
riêng, đã buộc Chính phủ Pháp phải công nhận độc lập, tự do, chủ quyền toàn vẹn
lãnh thổ ba nước Đông Dương; chấm dứt chính sách cai trị thực dân, tiến hành
trao trả độc lập cho nhiều nước thuộc địa ở châu Á và châu Phi. Chiến thắng
Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã thức tỉnh và là bước khởi đầu, cổ vũ khích lệ
động viên mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức trên phạm vi toàn thế giới vùng lên; là
tiếng chuông báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân cũ đã tồn tại hàng
trăm năm; là nhân tố góp phần tạo nên diện mạo mới đời sống chính trị thế giới
trong thế kỷ XX. Việt Nam trở thành biểu tượng sáng ngời của phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc, đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra một trang lịch
sử mới cho nhân loại.
Năm 1964 - kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện
Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định giá trị lịch sử, tầm vóc
và ý nghĩa thời đại của sự kiện: “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang
cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, anh dũng của quân và dân cả nước ta chống
thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp Mỹ. Đây là chiến thắng vĩ đại của nhân
dân ta và cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế
giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác -
Lênin trong thời đại ngày nay; chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhất
định thất bại, cách mạng giải phóng dân tộc nhất định thành công”.
72 năm đã qua, nhưng Chiến thắng Điện Biên
Phủ vẫn còn đó, mãi là một mốc son lịch sử chói lọi, để lại những bài học lịch
sử, kinh nghiệm quý báu, tiếp tục soi sáng con đường cách mạng Việt Nam đi tới
và giành được những thành tựu mới; sánh vai với các cường quốc năm châu trên
con đường hội nhập và phát triển. Đó là bài học về cuộc chiến tranh nhân dân
toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực, cánh sinh; là phát huy sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn, đè bẹp cả bộ máy
chiến tranh khổng lồ của kẻ xâm lược; phát huy tinh thần yêu nước, ý chí quyết
chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta; phát huy tinh thần
độc lập tự chủ, tự lực, tự cường và sáng tạo; phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phát huy tinh thần Chiến thắng Điện Biên Phủ
năm 1954, 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta đã giành được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực
như: Đến
năm 2026, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng
lãnh thổ trên thế giới, trong đó có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia thành
viên Liên hợp quốc; xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác ngày càng sâu rộng với
15 đối tác chiến lược toàn diện, hơn 20 đối tác chiến lược và nhiều đối tác
toàn diện; có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ,
đồng thời duy trì quan hệ hợp tác với trên 500 tổ chức quốc tế và khu vực. Thành tựu này, góp
phần khẳng định tầm vóc, ý nghĩa thời đại và giá trị lịch sử của Chiến thắng
Điện Biên Phủ; là nguồn sức mạnh tiếp sức cho dân tộc ta giành những thắng
lợi mới, lớn lao hơn trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.